Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt hơn 888 tỷ USD trong 9 tháng năm 2026, trong khi khối lượng hàng hóa vận chuyển tăng 15,8% và luân chuyển tăng 12,8%. Những con số mới nhất của Cục Thống kê cho thấy hoạt động thương mại và vận tải đang tăng trưởng mạnh, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực logistics trong bối cảnh chi phí vận tải quốc tế tiếp tục gia tăng.
Theo Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý III và 9 tháng năm 2026 của Cục Thống kê, Bộ Tài Chính, GDP 9 tháng năm 2026 ước tăng 9,01% so với cùng kỳ năm trước; trong đó khu vực dịch vụ tăng 8,69%, tiếp tục đóng góp quan trọng vào tăng trưởng chung của nền kinh tế. Trong bức tranh đó, thương mại và vận tải là những lĩnh vực ghi nhận tốc độ mở rộng đáng chú ý.
Quy mô thương mại hàng hóa tiến sát 900 tỷ USD
Tính chung 9 tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 888,02 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu đạt 434,30 tỷ USD, tăng 24,5%; nhập khẩu đạt 453,72 tỷ USD, tăng 36,7%. Cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 19,42 tỷ USD.
Riêng tháng 9, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt khoảng 117,69 tỷ USD, tăng 42,4% so với cùng kỳ. Đáng chú ý, cán cân thương mại tháng 9 đã trở lại trạng thái xuất siêu khoảng 1,27 tỷ USD.
Quy mô thương mại tăng nhanh đồng nghĩa với lượng hàng cần được tổ chức vận chuyển, lưu kho, giao nhận, làm thủ tục hải quan và phân phối cũng tăng tương ứng, trực tiếp mở rộng nhu cầu đối với dịch vụ logistics.
Ở chiều xuất khẩu, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục giữ vai trò chủ lực, chiếm hơn 80% tổng kim ngạch xuất khẩu. Các nhóm hàng có kim ngạch lớn tập trung chủ yếu vào điện tử, máy tính và linh kiện; máy móc, thiết bị; điện thoại; dệt may và giày dép. Điều này cho thấy logistics Việt Nam ngày càng gắn chặt với các chuỗi sản xuất công nghiệp và mạng lưới cung ứng quốc tế.
Ở chiều nhập khẩu, điện tử, máy tính và linh kiện đạt tới 188,94 tỷ USD, trong khi máy móc, thiết bị và phụ tùng đạt gần 53,95 tỷ USD. Quy mô lớn của các nhóm nguyên liệu, linh kiện và tư liệu sản xuất tiếp tục tạo nhu cầu đáng kể đối với vận tải xuyên biên giới, kho bãi, freight forwarding và dịch vụ hải quan.
Hơn 2,58 tỷ tấn hàng hóa được vận chuyển
Cùng với thương mại, hoạt động vận tải hàng hóa duy trì tăng trưởng hai con số. Tính chung 9 tháng năm 2026, khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt khoảng 2,58 tỷ tấn, tăng 15,8% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển đạt 510,1 tỷ tấn.km, tăng 12,8%.
Riêng quý III, lượng hàng vận chuyển đạt khoảng 941,3 triệu tấn, tăng 18,1%; lượng luân chuyển đạt 184,3 tỷ tấn.km, tăng 15,1%.
Xét theo phương thức, đường bộ tiếp tục chiếm ưu thế về khối lượng, với khoảng 1,95 tỷ tấn, tăng 17%. Vận tải đường thủy nội địa đạt 499,4 triệu tấn, tăng 13,1%; vận tải biển đạt 123,9 triệu tấn, tăng 9,6%.
Nếu xét theo khối lượng luân chuyển, vận tải biển lại giữ vị trí nổi bật với 258,8 tỷ tấn.km, chiếm hơn một nửa tổng lượng luân chuyển hàng hóa cả nước. Trong khi đó, vận tải đường sắt giảm 18,6% về khối lượng và giảm 7,9% về luân chuyển.
Các con số cho thấy cơ cấu vận tải vẫn mang đặc trưng rõ nét: đường bộ giữ vai trò chủ lực trong gom hàng và phân phối nội địa, trong khi đường biển đảm nhận phần lớn vận chuyển đường dài và thương mại quốc tế. Đồng thời, sự suy giảm của đường sắt cũng cho thấy dư địa phát triển vận tải đa phương thức còn khá lớn.
Chi phí dịch vụ vận tải quốc tế tăng nhanh
Một chỉ dấu đáng chú ý khác nằm ở cán cân xuất nhập khẩu dịch vụ. Trong 9 tháng năm 2026, xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam đạt khoảng 26,10 tỷ USD, tăng 18,5%. Trong đó, xuất khẩu dịch vụ vận tải đạt 7,81 tỷ USD, tăng 29,5%. Ở chiều ngược lại, nhập khẩu dịch vụ vận tải đạt tới 16,40 tỷ USD, tăng 35,1%. Riêng phí vận tải hàng hóa nhập khẩu đạt 13,284 tỷ USD, tăng 36,8% so với cùng kỳ.
Những con số này không thể đồng nhất trực tiếp với thị phần của doanh nghiệp logistics Việt Nam, bởi cán cân dịch vụ vận tải còn phụ thuộc vào điều kiện giao hàng, chủ thể thuê vận chuyển và phương thức thanh toán trong thương mại quốc tế. Tuy nhiên, mức tăng mạnh của nhập khẩu dịch vụ vận tải cho thấy một thực tế rõ ràng: chi phí mà nền kinh tế phải chi trả cho vận tải quốc tế đang tăng nhanh cùng với tốc độ mở rộng thương mại. Điều này đặt ra yêu cầu doanh nghiệp logistics Việt Nam cần tham gia sâu hơn vào các phân khúc có giá trị gia tăng cao, từ vận tải quốc tế, đại lý, giao nhận, kho vận đến quản trị chuỗi cung ứng.
Từ tăng trưởng sản lượng đến nâng cấp năng lực logistics
Không chỉ ngoại thương, thị trường trong nước cũng tiếp tục mở rộng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng đạt khoảng 5,93 triệu tỷ đồng, tạo thêm nhu cầu đối với kho vận, phân phối, fulfillment và logistics chặng cuối. Cùng với đó, chỉ số sản xuất công nghiệp 9 tháng tăng 12,3%; riêng công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,9%, tiếp tục tạo nguồn hàng lớn cho hệ thống logistics.
Nhìn tổng thể, thị trường logistics Việt Nam đang được hỗ trợ đồng thời bởi ba động lực: sản xuất tăng, thương mại tăng và dòng hàng tăng. Tuy nhiên, phía sau đà tăng trưởng là những vấn đề cần được quan tâm: nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu; chi phí dịch vụ vận tải quốc tế tăng mạnh; vận tải vẫn phụ thuộc lớn vào đường bộ trong khi khả năng kết nối đa phương thức chưa phát huy đầy đủ.
Ở quy mô thương mại đã tiến sát 900 tỷ USD chỉ sau 9 tháng, bài toán của logistics Việt Nam không còn đơn thuần là vận chuyển được nhiều hàng hơn, mà là tổ chức dòng hàng hiệu quả hơn, giảm chi phí, tăng kết nối giữa các phương thức vận tải và nâng cao năng lực cung ứng dịch vụ logistics quốc tế của doanh nghiệp Việt Nam.
Trong bối cảnh đó, logistics ngày càng không chỉ là lĩnh vực hưởng lợi từ tăng trưởng xuất nhập khẩu, mà trở thành một trong những yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của hàng hóa và doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Nguồn số liệu: Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý III và 9 tháng năm 2026, Cục Thống kê, Bộ Tài Chính
Thanh Hải – VP VLA Tổng hợp – Biên tập


