HIỆP HỘI

DOANH NGHIỆP DỊCH VỤ LOGISTICS VIỆT NAM
    
   TRANG CHỦ HỘI VIÊN TƯ VẤN(FAQS) VB PHÁP LUẬT ĐIỀU KIỆN KINH DOANH CHUẨN TIN TỨC LIÊN HỆ TẠP CHÍ HỘI     
BẢN TIN LOGISTICS VLA ( Số 19-2015)

BẢN TIN LOGISTICS VLA

Ra 2 tuần/ lần     

SỐ 19 – 2015

 

 

                   Tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu vừa qua, Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam có bài trình bày dưới nhan đề “QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM: THÁCH THỨC VÀ CƠ HỘI CHO TĂNG TRƯỞNG”.  Xin trích giới thiệu một số đoạn có liên quan đế dịch vụ/dịch vụ logistics để các hội viên tham khảo.

 

Khả năng liên kết là bản chất của chuỗi giá trị toàn cầu (GVC). Các doanh nghiệp tham gia vào chuỗi giá trị cần vận chuyển hàng hóa qua biên giới một cách bảo đảm và hiệu quả về mặt chi phí, nhằm giảm chi phí lưu giữ hàng trong kho và tuân thủ những yêu cầu nghiêm ngặt của các doanh nghiệp về thời gian giao hàng. Khi Việt Nam hội nhập đầy đủ hơn vào GVC và nâng tầm các nhiệm vụ mà đất nước thực hiện trong vòng hai thập kỷ tới, Việt Nam sẽ cần cải thiện khả năng liên kết. Mặc dù vận tải đường biển và đường bộ rất quan trọng, vận tải hàng không có vai trò đặc biệt trong GVC, chẳng hạn đối với hàng điện tử, vì các chi tiết có tỷ số giá trị trên trọng lượng rất cao nên phù hợp với loại hình vận chuyển nhanh chóng tuy đắt đỏ hơn bằng đường hàng không.

Việt Nam có kết quả tốt hơn các nước khác trong khối ASEAN về Chỉ số Kết quả hoạt động Logistics (Logistics Performance Index – LPI), nhưng không cao bằng nước láng giềng Trung Quốc, hay đất nước có kết quả tốt là Singapore, nước này đang tiến gần hơn tới mức kết quả hoạt động của thế giới mỗi năm[1]. Tuy nhiên, kết quả của Việt Nam là cao so với mức thu nhập của đất nước. Việt Nam được đưa riêng vào một nhóm nhỏ “các nước vượt mong đợi” trong báo cáo LPI gần nhất, do Việt Nam đã đạt số điểm cao hơn nhiều so với kỳ vọng khi so sánh mức thu nhập đầu người và kết quả hoạt động logistics giữa các quốc gia với nhau. Quả thật, Việt Nam có điểm LPI cao nhất trong số các nước thu nhập trung bình thấp năm 2014. Logistics và tạo thuận lợi thương mại là những điểm mạnh tương đối của Việt Nam trong khả năng kết nối với thị trường hàng hóa quốc tế.

Các vấn đề y tế, kiểm dịch động thực vật và vấn đề chất lượng các nhà cung cấp dịch vụ logistics. Mặc dù có rất nhiều nhà cung cấp dịch vụ logistics nội địa, họ thường không có năng lực để xử lý các giao dịch đa phương tiện phức tạp. Nhân viên có kỹ năng cũng thiếu. Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm đa số trong ngành này, điều đó cho thấy sự phân tán ở một mức độ nhất định. Ở phần còn lại, một số doanh nghiệp nhà nước cũng đang hoạt động tích cực trong ngành, Những mặt khác của quá trình tạo thuận lợi thương mại, khía cạnh Việt Nam đang tụt lại phía sau các quốc gia tương tự nhưng nhìn chung, họ không tận dụng được những tiến bộ gần đây trong lĩnh vực logistics – ví dụ như công nghệ thông tin – một cách tối ưu.

Kết nối một cách hiệu quả với thị trường quốc tế đòi hỏi một đất nước phải có cả phần cứng (cơ sở hạ tầng vật chất) và phần mềm (quy định cho thị trường dịch vụ cạnh tranh) phù hợp. Việt Nam sẽ cần phát triển thị trường dịch vụ cạnh tranh trong lĩnh vực thương mại và vận tải. Hiện nay, mức độ thuê ngoài để thực hiện chức năng logistics còn khá thấp và giới hạn trong những lĩnh vực truyền thống như vận tải. Trong trung hạn, việc thuê ngoài sẽ phát triển khi những người làm thương mại ngày càng nhận thức được những dịch vụ chuyên nghiệp mà nhà cung cấp dịch vụ logistics có thể mang lại cũng như khả năng họ giúp giảm bớt chi phí, cùng với nhu cầu quản lý chuỗi cung ứng phức tạp trở nên quan trọng hơn trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế liên tục.

Ngành dịch vụ nội địa ở Việt Nam chậm phát triển, ngăn cản đất nước tạo ra giá trị gia tăng nội địa thông qua việc tham gia GVC. Các dịch vụ hiện đại, bao gồm tài chính, bảo hiểm, thông tin liên lạc, vận tải và logistics đều thiếu hụt tại Việt Nam, cản trở đất nước nâng giá trị gia tăng nội địa khi tham gia GVC.

Trong khi việc phát triển khu vực dịch vụ trong nước hiện đại và có sức cạnh tranh cần thời gian, việc quan trọng trong ngắn hạn là tạo thuận lợi để tiếp cận với các dịch vụ nước ngoài. Tỷ trọng thương mại dịch vụ của Việt Nam trong GDP thấp thứ hai, sau Trung Quốc. Tỷ trọng thương mại dịch vụ thấp một phần do chỉ số giới hạn thương mại dịch vụ (services trade restrictiveness index -STRI) của Việt Nam khá cao. Tuy nhiên, những nước như Thái Lan hay Malaysia vẫn có tỷ trọng thương mại dịch vụ cao hơn, mặc dù chỉ số STRI của các nước này cũng cao hơn, trong khi Hàn Quốc hay Trung Quốc có tỷ trọng thương mại dịch vụ thấp dù chỉ số STRI thấp hơn. Điều này cho thấy rằng có những yếu tố khác ngoài vấn đề hạn chế thương mại dịch vụ góp phần vào việc xác định mức độ thương mại dịch vụ, bao gồm tỷ trọng xuất khẩu khẩu trong tổng thương mại dịch vụ, hàm lượng dịch vụ trong sản phẩm xuất khẩu, cũng như vai trò của du lịch ở mỗi quốc gia, và các yếu tố khác.

Nguồn: Tài liệu của Diễn đàn Kinh tế Mùa Thu 2015,  27/8/2015



[1] Chỉ số kết quả hoạt động logistics của Ngân hàng Thế giới (The World Bank’s Logistics Performance Index - LPI; Arvis và nhóm tác giả, 2014) cung cấp chỉ tiêu đo lường tổng thể kết quả hoạt động của Việt Nam trong những lĩnh vực này. Dựa trên khảo sát 1.000 đơn vị logistics chuyên nghiệp ở nhiều nước, LPI là bản tóm tắt kết quả ở sáu lĩnh vực: khả năng theo dõi và tìm kiếm hàng hóa; năng lực và chất lượng dịch vụ logistics; sự dễ dàng bố trí các chuyến hàng với giá cạnh tranh; hiệu quả quy trình thông quan; giao hàng đúng hẹn; chất lượng cơ sở hạ tầng thương mại và vận tải. Các đối tượng được khảo sát chấm điểm các nước trên các khía cạnh này và các câu trả lời được tổng hợp thành một chỉ số tổng thể với mức điểm từ 1 đến 5, số điểm càng cao thì kết quả hoạt động càng tốt.

[Trở về]
  

NHỮNG TIN KHÁC

:-:Copyright @ 2013 By Vietnam Logistics Business Association  - Design by Phatlocthinh.,LTD :-: